Bài nổi bật
Banner
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sửa chữa máy tính. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sửa chữa máy tính. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách phân biệt lỗi Main với Ram của máy tính

Khởi động máy tính, màn không lên, quạt chip vẫn quay. Màn hiện lên "No signal"...
Bạn phân vân không biết lỗi do main, cpu hay ram....
Hãy tiến hành những bước kiểm tra sau:

Phần 1: Nếu màn hình của bạn có tín hiệu từ PC

Bạn nhìn thấy gì? Hệ thống có thể hoàn tất quá trình POST (tự kiểm tra khi khởi động) hay chỉ dừng lại ở một quá trình nào đó? Nếu hệ thống có thể hoàn tất quá trình POST và tiếp tục quá trình khởi động thì khả năng lỗi thuộc về Mainboard, CPU và RAM là khá ít. Nếu hệ thống bị treo ở một bước nào đó, hãy bắt đầu với các bước chẩn đoán.
Bước 1: Quá trình boot bị treo ở một bước nào đó
Hệ thống của bạn khởi động được, một hoặc hai tiếng bíp vang lên, sau đó bạn thấy màn hình BIOS và đứng yên ở một giai đoạn nào đó trong quá trình POST, trước hoặc sau khi kiểm tra RAM, khi kiểm tra các ổ đĩa, hoặc ở dòng "Verifying DMI Data Pool"; vấn đề có thể là sự xung đột giữa các thiết bị như giữa card mạng hoặc card âm thanh với mainboard, 2 ổ đĩa gắn chung trên 1 cáp, cáp data bị hư,...

Bước 2: Tháo bớt các thiết bị không cần thiết:

Khi gặp trường hợp này, bạn nên tháo bớt các thiết bị không cần thiết, chỉ giữ lại mainboard, CPU, RAM, card đồ họa. Nếu hệ thống khởi động được và chỉ dừng lại khi báo thiếu thiết bị boot (ổ cứng, ổ đĩa ...) thì lỗi là do sự xung đột giữa các phần cứng. Bạn hãy cắm lần lượt từng thiết bị ngoại vi vào và khởi động, hệ thống lỗi ở thiết bị nào thì đó chính là nguyên nhân gây ra tình trạng treo khi khởi động.


Bước 3: Kiểm tra RAM

Nếu khi tháo bớt các thiết bị không cần thiết mà hệ thống vẫn bị treo ở một màn hình nào đó, bạn sẽ phải kiểm tra lại RAM. Thử đổi vị trí các thanh RAM của bạn, gắn sang các khe RAM khác, tháo bớt ra chỉ chừa lại một thanh duy nhất. Nếu vẫn chưa được, hãy thay bằng một thanh RAM khác mà bạn chắc rằng nó đang hoạt động tốt. Nếu hệ thống hoạt động tốt sau khi thay RAM, chắc chắn rằng thanh RAM cũ của bạn đã hỏng. Còn nếu không, mời bạn đọc tiếp ở bước kế.

Bước 4: Kiểm tra thiết lập trong BIOS

Bạn có đang ép xung? Các thiết lập đã đúng hết chưa? Nếu bạn không chắc chắn về các thiết lập trong BIOS, hãy đưa nó về thiết lập mặc định bằng cách chọn "Restore Default Settings" hay "BIOS Default Settings" trong BIOS, bạn cũng có thể ấn F7 hay F5 tùy theo loại BIOS.

Bước 5: Kiểm tra lại tản nhiệt

Nếu sau khi đã đưa thiết lập BIOS về mặc định mà hệ thống vẫn treo, hãy nghĩ tới việc hệ thống của bạn bị quá nhiệt. Khi CPU hoặc card đồ họa bị quá nóng, chúng sẽ treo trong khi khởi động hoặc thậm chí là tự khởi động lại. Các CPU và card đồ họa ngày nay tỏa rất nhiều nhiệt, bạn hãy rờ vào phần kim loại của tản nhiệt xem nó có quá nóng hay không? Nếu phần kim loại quá nóng, bạn nên nghĩ tới việc thay một tản nhiệt khác cho CPU hoặc card đồ họa của mình.


Phần 2: Nếu màn hình của bạn không có tín hiệu từ PC

Bước 1: Hệ thống có hoạt động nhưng màn hình không hiển thị
Đầu tiên, bạn hãy xem lại bài "Hướng dẫn chẩn đoán bệnh của thiết bị hiển thị" đăng ở số tháng 12/2007. Nếu đã hoàn tất các bước này, và chắc chắn rằng lỗi không nằm ở card đồ họa hoặc màn hình. Chúng ta sẽ tiếp tục kiểm tra lỗi hay xảy ra nhất: RAM bị lỏng hoặc tiếp xúc không tốt.

Bước 2: Kiểm tra RAM

Lỗi hay xảy ra nhất khiến hệ thống không thể khởi động được là do RAM gắn không chặt hoặc tiếp xúc không tốt. Đầu tiên bạn tháo các thanh RAM ra, dùng một cây cọ nhỏ quét sạch các khe RAM, vệ sinh phần chân tiếp xúc RAM rồi gắn RAM vào lại vị trí cũ. Nếu hệ thống vẫn không khởi động được, hãy thử lại ít nhất 3 lần trước khi sang bước kế tiếp.

Bước 3: Kiểm tra CPU

Thường thì CPU rất khó hư, bước kiểm tra này dành cho trường hợp bạn vừa mới thay CPU mới hoặc Mainboard mới vào hệ thống. Tháo tản nhiệt ra và kiểm tra xem mình đã lắp CPU đúng cách chưa? Nếu CPU bị kênh hoặc tiếp xúc không tốt sẽ khiến cho hệ thống không thể khởi động được. Sau khi chắc chắn rằng CPU đã được lắp đúng cách, bạn nhớ lắp tản nhiệt vào lại và đảm bảo rằng đã cắm dây điện cho quạt của tản nhiệt.
Tản nhiệt không gắn sát hoặc quạt không quay cũng có thể gây ra tình trạng máy không khởi động.Nếu quạt không quay thì bạn nên thay một chiếc quạt khác hoặc thay hẳn một bộ tản nhiệt khác để đảm bảo CPU của bạn hoạt động ổn định.

Bước 4: Có những tiếp "Bíp"

Nếu bạn nghe những tiếp "bíp" ngắn liên tục, điều đầu tiên bạn nên nghĩ tới là thanh RAM của mình đã hỏng hoặc tiếp xúc không tốt hoặc card đồ họa gắn không chặt. Nếu bạn đã kiểm tra không phải lỗi của card đồ họa, quay lại Bước 3 để kiểm tra lại RAM. Nếu vẫn không thể khiến cho hệ thống khởi động, hãy thử với một thanh RAM khác mà bạn chắc chắn là đang hoạt động tốt.

Bước 5: Không có những tiếng "Bíp", hệ thống vẫn chạy, màn hình không có tín hiệu

Bạn có chắc rằng BIOS đang được thiết lập đúng hay không? Hệ thống có thể không khởi động được nếu những thiết lập này sai hoặc bạn đang ép xung quá mức khiến nó không khởi động được. Nếu không chắc về điều này, hãy trả những thiết lập này về mặc định bằng cách đơn giản nhất là rút dây điện nguồn ra và tháo pin CMOS. Tháo pin ra và giữ trong khoảng 5 - 10 giây sẽ đưa các thiết lập về mặc định.


Bước 6: Test hệ thống bên ngoài case

Test các thiết bị với hệ thống nằm bên ngoài thùng máy là một kỹ thuật thường được dùng bởi các kỹ thuật viên để xác định rằng hệ thống có bị chạm mát với vỏ case hay không. Khi chạy như vậy, bạn dễ dàng thay thế các thiết bị khác nhau để thử xem chúng có hư hay không một cách dễ dàng. Thông thường, ta dùng một hộp carton với một miếng mút lót main để đặt mainboard và các thiết bị khác.
Nếu hệ thống của bạn hoạt động bình thường khi đặt bên ngoài thùng máy có nghĩa là thùng máy của bạn đã gây nên chạm mát với mainboard hoặc các thiết bị khác. Kiểm tra lại các chỗ tiếp xúc giữa các thiết bị với thùng máy xem có khả năng bị chạm mát ở đâu đó hay không, hay có các con ốc đỡ mainboard nào cao hơn các con khác ko, điều này có thể làm cho bo mạch bị cong gây ra tình trạng ko khởi động được.

Bước 7: Xác định lỗi do CPU hay mainboard?

Nếu đã thực hiện tất cả các bước trên, khi đang đặt hệ thống bên ngoài case, bạn thay một CPU khác (chắc chắn rằng nó đang hoạt động tốt) vào. Nếu hệ thống hoạt động tốt, có nghĩa là CPU của bạn có vấn đề, hãy đem nó đi bảo hành hoặc thay bằng một CPU khác. Nếu hệ thống vẫn không thể chạy bình thường, mainboard của bạn đã bị hỏng

Các nguyên nhân bad ổ cứng va cách sửa lỗi


Thật ra: Bad ổ cứng là lỗi phần cứng gây ra, chúng ta tạm hiểu là một phần hay toàn bộ ổ cứng (HDD) bị một lỗi mà tại đó dữ liệu không thể lưu trữ đúng hoặc không thể lưu trữ.
Khi vùng bad sector xuất hiện ngay trên phân vùng cài Hệ Điều Hành (HĐH) thì có thể không vào được HĐH, hoặc HĐH làm việc chập chờn, v.v…
Nếu Bad sector xuất hiện tại vùng chứa dữ liệu quan trọng thì coi như là mất vĩnh viễn.

Nhận biết:
1. Trong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề xuất hiện một thông báo lỗi nào (đĩa cài đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân vùng cho HDD một cách bình thường.

2. không Fdisk được: khi Fdisk báo lỗi no fixed disk present (đĩa cứng hiện tại không thể phân chia) hoặc Fdisk được nhưng rất có thể máy sẽ bị treo trong quá trình Fdisk.

3. không Format được HDD: khi tiến hành format đĩa cứng máy báo lỗi Bad Track 0 – Disk Unsable.

4. khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation unit xxxx. Lúc này máy báo cho ta biết cluster xxxx bị hư và nó đang cố gắng phục hồi lại cluster đó nhưng thông thường cái ta nhận được là một bad sector!

5. đang chạy bất kì ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như Error reading data on dirver C:, Retry, Abort, Ignore, fail? Hoặc A serious error occur when reading driver C:, Retry or Abort?

6. khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ phần mềm kiểm tra bề mặt đĩa (surface scan) nào, ta sẽ gặp rất nhiều bad sector.


Những nguy cơ :

Thật ra nguy cơ đối với những ổ cứng (HDD) thân yêu của chúng ta là như nhau, không cần biết là hãng nào sản xuất, tỉ lệ hỏng hóc được thống kê cho thấy lớn hơn rất nhiều so với nhà sản xuất đưa ra. Vì thế khi mua ổ cứng hãy chọn ổ mới để còn được bảo hành (<*,..,*>)
Chúng ta chẳng bao giờ ngờ được là ổ cứng của mình bị BAD vì vậy cần chú ý sao lưu dữ liệu quan trọng khi nhận thấy những dấu hiệu trên.

Khắc phục:
(tất cả các chương trình giới thiệu dưới đây nằm gọn trong đĩa Hiren’s Boot có bán ở các cửa hàng phần mềm tin học phiên bản 7.7 hoặc 7.8).

o Cách 1: Dùng partition Magic cắt bỏ chỗ bad.

Thực hiện như sau:

Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động từ đĩa Hiren’s Boot, ở menu của chương trình chọn mục 6. Hard Disk Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1.Norton Disk Doctor.
Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành chạy chương trình Partition Magic cắt bỏ phần bị bad bằng cách đặt partition chứa đoạn hỏng đó thành Hide Partition.

Ví dụ: khoảng bị bad từ 6.3GB đến 6.6GB, bạn chia lại partition, chọn partition C đến 6GB, partition D bắt đầu từ 7GB, cứ như thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad.
Cách này sử dụng rất hiệu quả tuy nhiên nó chỉ khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số lượng bad thấp.

Cách 2: dùng chương trình HDD Regenerator:

o Thông thường nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên mỗi track hoặc cylinder, và thực chất kích thước thực của sector vẫn lớn hơn 512bytes rất nhiều (tùy loại hãng đĩa). Như thế nếu như số sector bị bad ít hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này có thể HDD Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt đắp qua thay cho sector bị hư, như vậy bề mặt đĩa trở nên “sạch“ hơn và tốt trở lại. Dĩ nhiên nếu lượng sector dự phòng ổ cứng ít hơn thì ổ cứng sẽ còn bị bad một ít. Bạn có thể quay lại cách 1.

Cách thực hiện:

Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6.Hard Disk Tools, chọn tiếp 2. HDD Regenerator, bấm phím bất kì để xác nhận. Kế đến ở dòng Starting sector (leave 0 to scan from the beginning) gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có của HDD, gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện. Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và số lượng bad.










Với trường hợp bad ổ cứng (Chính xác là bad sector), có thể do lỗi trong quá trình sản xuất, do người sử dụng, do điện lưới không ổn định – điện lên xuống thất thường gây sốc ổ hoặc do lỗi logical.

- Lỗi gây ra bởi chuyển động cơ học của Actuator hoặc do người dùng gây va đập dẫn đến head bị va vào bề mặt platter.


- Nhiệt độ cao của môi trường sử dụng computer gây nên sự thoái hoá công năng của bề mặt từ tính.


- Lỗi về điện hoặc reset xảy ra trong tiến trình đọc/ghi data.


Thời gian dẫn đến hiện tượng bad ổ, phụ thuộc nhiều vào yếu tố sử dụng và điện áp: Để kéo dài tuổi thọ cho ổ cứng, khi tắt máy phải tắt đúng quy trình (Thoát hết chương trình đang chạy, sau đó thực hiện shut down), không tắt cưỡng ép (Giữ nút Power), nên sử dụng ổn áp riêng cho PC và bộ lưu điện, tránh hiện tượng mất điện đột ngột làm ảnh hưởng tới sốc ổ cứng khi đang vận hành.


Để chữa Bad, hiện tại có 1 số phần mềm có thể làm được điều này, tuy nhiên đa phần người sử dụng dùng phần mềm HDD Regenerator có trong đĩa khởi động Hiren's BootCD, bạn có thể tìm mua đĩa này tại các cửa hàng bán đĩa CD-ROM vi tính hoặc tìm trên mạng Internet với từ khóa "Hiren's BootCD" rồi tiến hành theo các bước sau:


Khởi động chương trình HDD Regenerator:


* Cho máy vi tính khởi động từ dĩa Hiren's BootCD bằng cách mở máy vi tính lên và nhanh chóng cho dĩa CD này vào ổ dĩa CD-ROM và đóng ổ dĩa lại ngay. Khi xuất hiện màn hình khởi động của Hiren's BootCD, chọn Start BootCD.


* Trong Menu phân loại của Hiren's BootCD, chọn Hard Disk Tools.


* Trong Menu chương trình của Hard Disk Tools, chọn HDD Regenerator.


* Màn hình HDD Regenerator báo cho biết có bao nhiêu ổ dĩa cứng và dung lượng của từng ổ dĩa. Hãy nhấn một phím bất kỳ để tiếp tục hoặc nhấn phím Esc để thoát khỏi chương trình nếu muốn.


* Nếu máy có nhiều ổ dĩa cứng thì chương trình sẽ yêu cầu chọn ổ dĩa, nhập vào số thứ tự tương ứng với ổ dĩa muốn sửa lỗi và nhấn phím Enter.


Chú ý: Ổ dĩa cứng được hiển thị trên đây là ổ cứng vật lý (ổ cứng thật) chứ không phải là ổ đĩa từ các phân vùng (Partition) đã được chia.


* Trong màn hình kế tiếp chương trình sẽ đưa ra lựa chọn bắt đầu kiểm tra (Scan) từ vị trí nào của ổ dĩa, nếu muốn kiểm tra từ đầu thì cứ để nguyên số 0 (mặc nhiên) và nhấn phím Enter để tiến hành kiểm tra.


* Nếu xác định được ổ dĩa cứng bị lỗi ở phần nào thì có thể chỉ cho bắt đầu kiểm tra từ vị trí đó bằng cách nhập vào giá trị dung lượng muốn kiểm tra từ đó (Nhằm tiết kiệm thời gian).

Thí dụ: Trong máy gắn 1 ổ dĩa cứng có dung lượng 80GB (tính chẵn khoảng 80.000MB) và được chia làm 2 phân vùng (Partition) là ổ C: có dung lượng 30.000MB và ổ D: có dung lượng 50.000MB, nếu xác định chỉ bị lỗi khi truy xuất dữ liệu trên ổ D: thì có thể nhập 30000 và nhấn phím m, chương trình sẽ tự chuyển thành Mb (MB) sau đó nhấn phím Enter để tiến hành kiểm tra ổ dĩa bắt đầu từ vị trí 30.000MB cho đến hết.

* Chương trình sẽ tiến hành kiểm tra và hiển thị các thông tin trên màn hình, quá trình kiểm tra và sửa lỗi sẽ mất rất nhiều thời gian.


* Trong khi chương trình kiểm tra, nếu tìm thấy lỗi (Bad Sector) nó sẽ hiện chữ B và bắt đầu sửa bằng cách phục hồi lại, sau khi được phục hồi chỗ bị lỗi sẽ hiển thị chữ R. Nếu không phục hồi được lỗi này chương trình sẽ cố gắng di chuyển dữ liệu vào nơi khác và đánh dấu B (Bad) để dữ liệu không sẽ được ghi vào chỗ bị lỗi này.


* Sau khi kiểm tra và sửa lỗi xong chương trình sẽ hiển thị thông báo hoàn tất, nhấn một phím bất kỳ để kết thúc. Sau đó chương trình sẽ tiếp tục hiển thị bảng thông kê kết quả, nhấn phím bất kỳ một lần nữa để thoát khỏi chương trình.


Lưu ý:


* Trong quá trình kiểm tra, nếu muốn ngưng việc kiểm tra lại thì có thể nhấn tổ hợp phím Ctrl + C để kết thúc chương trình, những lỗi đã sửa vẫn có hiệu lực.


* Nếu thấy chương trình HDD Regenerator kiểm tra rất chậm và liên tục hiển thị nhiều chữ B có nghĩa là ổ dĩa đã bị lỗi quá nặng, nên thay mới để đảm bảo cho dữ liệu.


Khôi phục bad sector trên ổ cứng

        Ổ cứng có tuổi thọ sử dụng trên hai năm thì thường bị lỗi, một số sector sẽ không còn sử dụng được nữa mà người ta thường gọi là Bad sector. Nguyên nhân phần lớn có thể là do phần cơ của ổ cứng hoạt động không ổn định thường gọi là hư hỏng vật lý. Đối với nguyên nhân này thì khả năng khôi phục lại là rất thấp và không phải người dùng bình thường có thể làm được mà đòi hỏi đến các kỹ thuật viên chuyên nghiệp. Bên cạnh đó cũng phải kể đến khả năng hư hỏng do phần mềm gây ra như: do virus phá hoại, cúp điện khi đang làm việc, cài đặt và gỡ bỏ các phần mềm không đúng cách... cũng sẽ được hệ thống liệt kê vào danh sách Bad Sector mà thực ra nó vẫn còn dùng được. Để lấy lại những Bad sector đấy thì không phần mềm nào có thể thực hiện tốt hơn chương trình HDD Regenerator của Dposoft.Như chúng ta đã biết, ổ cứng bị lỗi Bad Sector nói chung thì khi bảo hành các nhân viên kỹ thuật sẽ tiến hành format cấp thấp để đánh dấu và lọai bỏ các Bad Sector nói chung. Quá trình này sẽ làm mất dữ liệu có trên ổ cứng và có thể xóa nhầm các Sector do hư hỏng phần mềm gây ra. Nhưng đối với HDD Regenerator thì những hạn chế trên sẽ được khắc phục. Cách sử dụng: - Chương trình không có khả năng sữa chữa Bad Sector trực tiếp trên hệ điều hành Windows mà chỉ cho phép sử dụng trong môi trường DOS mà thôi. Vì thế HDD Regenerator sẽ tạo một đĩa mềm chứa chương trình sữa chữa có khả năng Boot. Quá trình này thực hiện rất đơn giản. Sau khi cho đĩa mềm vào ổ, hãy khởi động chương trình. Nhấn vào menu Regeneration và chọn mục Create Bootable Diskette. HDD Regenerator sẽ tiến hành format và chép chương trình vào đĩa mềm đó. - Khởi động lại máy tính và tiến hành boot bằng đĩa mềm. Lưu ý rằng chương trình chỉ nhận dạng ổ cứng chứ không thể nhận ra từng phân vùng trên ổ cứng. Tiếp theo bạn nhấn vào nút Fix để HDD Regenerator tiến hành kiểm tra, sữa chữa và khôi phục lại Bad Sector không phải là lỗi vật lý gây ra. Số lượng Bad Sector khôi phục được sẽ được hiển thị rõ ràng trong giao diện của chương trình. - Đối với ổ cứng Maxtor với dung lượng 40 GB mất khoảng 5 tiếng để có thể hoàn tất quá trình sữa chữa, tốt nhất bạn nên chạy chương trình này vào ban đêm. Chương trình được cung cấp tại địa chỉ: http://www.dposoft.net/ với dung lượng khoảng 1,6 MB, tương thích với mọi hệ điều hành Windows.

Lỗi màn hình màu xanh

Trang Goc 

Dừng (màn hình màu xanh) lỗi gây ra bởi một thiết bị hoặc trình điều khiển



Bạn đã nhận được thư này vì một thiết bị phần cứng, các trình điều khiển hoặc phần mềm liên quan đã gây ra một lỗi dừng, còn được gọi là một lỗi màn hình xanh . Loại lỗi có nghĩa là máy tính đã đóng cửa đột ngột để bảo vệ bản thân từ tiềm năng dữ liệu tham nhũng hay mất mát. Trong trường hợp này, chúng tôi đã không thể phát hiện các thiết bị cụ thể hoặc điều khiển có thể gây ra vấn đề.


Các bước gỡ rối sau đây có thể ngăn cản lỗi dừng định kỳ. Hãy thử chúng theo thứ tự được đưa ra. Nếu một trong những bước không giải quyết vấn đề, sau đó chuyển sang kế tiếp.



có vài nguyên nhân bị màn hình xanh chết chóc(bsod:blue screen of death) nà:
1)do lỗi driver và phần mềm
2)do lỗi khởi động :lỗi này do khi ta lỡ tháo một phần cứng có liên quan đến khởi động sẽ gây ra lỗi này,hay tháo driver nào có liên quan đến khởi động máy tính
3)lỗi khi cài máy :khi cài máy thì phần cứng và hdd là phần tổn thương nhất chỉ một tổn thương nhẹ về phần cơ cũng làm cho máy bị treo
4)lỗi hệ thống:trục trặc bộ nhớ chính ,hệ thống và driver hay phần mềm trong win
5)lỗi khác :như là cpu và vga quá nóng hay hdd bị hư ,tập tin hệ thống bị hư
đây là 5 lỗi thường gây ra màn hình xanh
cách kiểm tra là bạn khi khởi động máy tính bạn bấm f8 để vào safe mode vào đây sẽ hạn chế driver và phần mềm .ở giai đoạn này nếu xuất hiện lỗi thì nguyên nhân xảy ra là do phần cứng ,nếu ở đây máy vẫn bình thường mà vào win vẫn bị thì là do driver hay phần mềm làm xuất hiện màn hình xanh.nếu là do driver và phần mềm thì quá dễ bạn chỉ cần croll back driver lại thôi còn phần mềm nào bị hư thì xoá nó đi .ngoài ra bạn có thể dùng chức năng recovery trong system retore để phục hồi lại hệ thống .
các bước trên nếu còn bị thì bạn phải tháo ram ra lau chân ram lại cho sạch và rắm vào slot trên main thật kỹ vào,làm vệ sinh quạt cpu và bôi kẹm tản nhiệt cho em nó,test ổ cứng xem có bad không ,ngoài ra cpu lõm cũng làm xuất hiện lỗi màn hình xanh nguyên nhân là nguổn không cung cấp đủ điện năng cho main tiêu thụ 

- Phần mềm: do máy bị nhiễm virut hoặc máy bạn dùng quá tải, hoặc xung đột phần mềm. Để khắc phục bạn vào chế độ safemode để remove phần mềm hay game gây ra xung đột( thường là phần mềm được cài trước khi bị lỗi), còn không bạn cài lại win xem sao.
- Phần cứng: chủ yếu lỗi này là do Dump ram, để khắc phục bạn tháo thanh ram ra lau chùi, vệ sinh khe ram và chân thanh ram (dùng cục tẩy), và cũng có thể ổ HDD của bạn bị bad bạn dùng phần mềm ( vào bios)test ổ cứng xem có bị bad không.
Trên đây là góp ý của mình về câu hỏi của bạn, hy vọng sẽ giúp ích cho bạn. Chúc bạn may mắn và thành công

Các bệnh thường gặp khi sử dụng laptop

1.Quá nóng

Triệu chứng: máy bị xung đột, treo máy.Cách giải quyét: làm sạch cửa thông gió, sử dụng vật lọc cửa gió, nâng cấp BIOS

Các máy tính thường xuyên tỏa nhiều nhiệt, nhưng máy laptop lại đặc biệt dễ bị nóng hơn do kích thước hệ thống thông hơi nhỏ. Bụi bẩn cũng sẽ làm cản trở sự lưu thông không khí và làm máy không cấp được không khí để làm mát CPU.

Bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách làm sạch các cửa gió, tỏa nhiệt của máy với vải hay chổi quét bàn phím. Để tránh cho bụi kết lại ở các cửa gió, hãy sử dụng các miếng vải lọc ở cửa thông gió.

Tuy nhiên cần chú ý để không bịt hoàn toàn cửa thông gió vìđó là vị trí mà không khí thoát ra ngoài để làm mát hệ thống nhanh. Nếu nhưgiải pháp sử dụng bộ lọc không hiệu quả, bạn có thể sẽ nâng cấp BIOS của hệthống (điều khiển phần cứng của máy). Thường thì hầu hết các nhà sản xuất đềunâng cấp các file BIOS tự động để giải quyết vấn đề tỏa nhiệt.

2. Ổ đĩa chạy chậm

Triệu chứng: thời gian nạp các chương trình quá lâu, truyền tải file lâu

Giải pháp: dồn đĩa

Các thông tin không được tổ chức trên ổ cứng của bạn sẽ làm giảm tính năng của máy vì máy tính tốn nhiều thời gian để phân tích qua các dữ liệu bị phân đoạn và các phân vùng bị lỗi. Vấn đề này có thể loại bỏ dễ dàng bằng 1 công cụ có sẵn trong Windows - Disk Defragmenter. Người sử dụng có thể vào Programs chọn Accessories rồi vào thư mục System Tools.

Rất đơn giản người dùng chỉ cần chọn ổ đĩa muốn dồn và nhấn vào phím Analyze. Ngoài ra cũng còn có 1 số ứng dụng khác như Diskeeper 2007với nhiều phương thức để tự động dồn đĩa, hay dồn đĩa thời gian thực, và đặc biệt Diskeeper có sử dụng công nghệ InvisiTasking giúp cho máy tính không bị cạn tài nguyên.

3. Không nạp được pin

Triệu chứng: máy laptop của bạn chạy được 1 vài phút và tắt khi không cắm nguồn

Giải pháp: thay pin

Quá chú kỳ sống, các pin lithium-ion có thể mất khả năng để nạp điên (chai pin). Sau 1 vài năm, sẽ chỉ còn nạp được điện trên 1 vài phần của pin. Chính vì thế thay pin là cách đơn giản và hiệu nhất.


4. Cần thêm bộ nhớ

Triệu chứng: tính năng chậm khi sử dụngnhiều ứng dụng, treo máy, thời gian khởi động lâu

Giải pháp: nâng cấp RAM, sử dụng ổ USB cótính năng ReadyBoost

Nếu laptop của bạn có thời gian khởi động hơi lâu, bạn cầnphải kiểm tra các chương trình startup của máy. Để làm điều này, bạn hãy đưa con trỏ chuột vào các biểu tượng ở góc cuối bên phải màn hình, nếu chương trình nào ít sử dụng hãy ngắt (disable) chúng.

Để có thể kiểm soát tốt hơn các chương trình nạp khi khởi động máy bạn có thể sử dụng chương trình System Suite 7 Professional, 1 bộ chương trình với hơn 60 tiện ích để quản lý startup và tối ưu hóa máy tính.

Bạn cũng nên mua thêm Ram mới, hiện nay có rất nhiều hãng như Kingston,KingMax Crucial để lựa chọn. Với người sử dụng Vista có thể sử dụng ứng dụng mới trong Vista - Memory Diagnostics, và đánh chữ "memory" trong thanh tìm kiếm và hệ điều hành sẽ quét bộ nhớ của máy để tìm lỗi và phân tích, đưa ra lời khuyên nếu cần.

5. Lỗi ổ cứng

Triệu chứng: Nghe thấy tiếng click bất cứ khi nào máy tính truy cập dữ liệu trong ổ cứng

Giải pháp: vào các trang backup online,thay ổ cứng

Rõ ràng là cách tốt nhất để bảo vệ ổ cứng tránh khỏi bịhỏng đó là sử dụng giải pháp backup. Ngày nay, có rất nhiều lựa chọn về vấn đềnày, trong đó có giải pháp về phần mềm, như Norton Save & Restore 2.0 rất dễ sử dụng.

Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều công cụ để kiểm tra lỗi ổ cứng, ví dụ như Hitachi hỗ trợ một vài công cụ trên trang của hãng để hỗ trợ người sử dụng. Nếu ổ cứng của bạn phải thay, hãy đảm bảo rằng bạn backup được càng nhiều càng tốt và chuyển dữ liệu sang ổ mới.

Và bạn có thể thực hiện theo các hướng dẫn từng bước từngbước có sẵn trên các trang hỗ trợ của các nhà sản xuất. Ví dụ như Lenovo còntrình diễn cả 1 đoạn video clip về việc thay thế ổ cứng trên trangwww.lenovo.com.

6. Bàn phím kém (Bad keyboard)

Triệu chứng: các phím bẩm lung lay, vàthiếu phím (do bị bong ra)

Giải pháp: thay bàn phím

Bàn phím thường phải chịu nhiều "áp lực" nặng.Các bàn phím thường bị long ra hoặc bị mòn đi. Nhờ những hướng dẫn trực tuyếntrên mạng, bằng cách nhập vào từ khóa "keyboard replacement" là ngườisử dụng có thể truy nhập vào CSDL của nhà sản xuất để tìm hiểu nội dung. Ví dụnhư CSDL "Ask Iris" của Toshiba cung cấp vô số những hướng dẫn vềthay thế phần cứng.

7. Không kết nối được với mạng không dây

Triệu chứng: không có kết nối Internet, vào trình duyệt web khá lâu mà không có nội dung

Giải pháp: kiểm tra chức năng không dây đã bật chưa, sử dụng các công cụ thông minh, kiểm tra router (modem) đang phát tín hiệu quảng bá tên mạng (SSID)

Nếu bạn muốn tránh khỏi các vấn đề mạng rõ ràng thì bạn cần1 công cụ để giúp bạn xử lý vấn đề mà không cần đến bất kỳ 1 biệt ngữ nào, hãy tải về ứng dụng Network Magic (có cả bản miễn phí và thương mại). Phần mềm này sẽ giúp bạn thiết lập và bảo mật mạng dễ dàng.

Hoàn toàn theo một hướng mạng tốt nhất, đồng thời cũng sửa những liên kết mạng không dây bị gián đoạn. Còn đối với những người hay di chuyển thì hãy sử dụng Hotspot Helper của hãng JiWire, không chỉ giúp bạn ở đâu có thể đăng nhập qua wifi mà còn bảo vệ bạn trước những nguy hại khi lướt mạng.ứng dụng này cũng bảo mật cả e-mail khi bạn ở cơ quan.

8. Các điểm ảnh bị cắt (điểm ảnh chết)

Triệu chứng: có những chấm đỏ hoặc xanh lá cây trên màn hình

Giải pháp: loại bỏ các điểm ảnh chết

Những điểm ảnh không mời mà đến là điều phiền toái đối vớichức năng của màn hình LCD. Các điểm ảnh này thường lưu lại màu xanh hoặc đỏ mà không sáng như các điểm ảnh khác trên màn hình. Và chắc chắn là các nhà sản xuất không thể nào thay thế 1 màn hình LCD chỉ bởi 1 vài điểm ảnh như vậy xuất hiện.

Có một giải pháp là sử dụng vật liệu mềm giống như vải nỉ và chà theo chuyển động hình tròn xung quanh điểm ảnh bị cắt đó. Thực hiện cách này thường xuyên sẽ làm cho điểm ảnh sáng lên.

9. Hệ thống hỏng

Triệu chứng: máy không khởi động vào hệ thốngđược

Giải pháp: Tháo ổ cứng và để nó thành ổ phụcủa máy khác, chạy Checkdisk.

Hầu hết mọi người đều rơi vào trạng thái hoảng hốt, lo sợkhi máy tính không vào được hệ thống. Nhưng nhiều lúc vấn đề rất đơn giản chỉ là thiếu 1 file hệ thống hoặc có 1 sector bị lỗi trong ổ cứng.

Trong trường hợp đó, để xác định điều đó, bạn cần tháo ổ cứng ra theo hướng dẫn của nhà sử dụng và đưa ổ cứng đó vào một hộp USB (tức làmột giao diện để biến ổ cứng thành 1 ổ USB). Hiện nay có rất nhiều thiết bị kiểu này và có thể hỏi mua 1 hộp ổ cứng USB ở bất kỳ một cửa hàng bán thiết bị máytính nào.

Tiếp đó, hãy nối cáp ổ cứng mà bạn vừa lắp với 1 máy PC.Nếu hệ thống file vẫn còn nguyên, thì bạn hãy thử truyền tải file dữ liệu từmáy PC sang ổ USB và ngược lại. Sau đó hãy chạy Checkdisk trên máy PC dưới dạng dòng lệnh DOS (Start/Programs/Accessories/Command Prompt) và gõ X: (X là chữ cái của ổ cứng ngoài - ổ USB) và gõ Enter.Sau đó gõ tiếp "chkdsk /f.". Hệ thống sẽ hỏi bạn dismount ổ đĩa vàbạn chọn Y và nhấn Enter.

Máy tính sẽ hiển thị thông tin về ổ cứng của bạn (loại hệthống, số serial) và sau đó sẽ quét ổ cứng, sửa bất cứ lỗi nào có. Một bản thông báo sẽ hiện ra và bạn có thể thấy những thay đổi đã được thực hiện với ổ cứng. Nếu tất cả đã tốt, bạn lắp ổ cứng ở lại máy xách tay và thử nghiệm.

Các bệnh thường gặp của máy tính

Những 'bệnh' thường gặp của máy tính và cách khắc phục



1. Máy bị “treo” trong khi đang shutdown;2. Windows Media Player 10 không thể xem DVD 3. Bạn không thể đọc tập tin trên đĩa CD/DVD sau khi bạn thay thế ổ đĩa CD-R/CD-RW cũ của mình bằng một ổ CD/DVD mới....

Chắc hẳn trong số chúng ta– những “vọc sĩ” máy tính- đều không ít lần gặp phải trường hợp “cục cưng PC” của mình bị “hắt hơi, sổ mũi” phải không nào? Trong những tình huống đó, nếu bạn là một “cao thủ” hay một “lão làng” với kinh nghiệm đầy mình thì việc khắc phục sự cố thật dễ như “trở bàn tay”!
Nhưng nếu bạn là người mới làm quen với cái thế giới PC ấy thì xin bạn cũng đừng quá lo, hãy bình tĩnh đọc hết bài viết này, trước khi vác nó đến …“bệnh viện” nhé! Trong khuôn khổ của bài viết, tôi xin được trình bày với các bạn một số lỗi thường gặp khi sử dụng máy vi tính và vài chiêu thức để khắc phục những căn bệnh đó!

1. Máy bị “treo” trong khi đang shutdown

Tình trạng: Khi bạn đang Shutdown máy tính đến chỗ màn hình hiện lên thông báo “Saving your settings” thì máy đột nhiên “đứng im, không nhúc nhích”. Bạn có thể vẫn di chuột được, nhưng nếu ấn 3 phím Ctrl – Alt – Del thì máy không hề có tín hiệu phản hồi.

Chẩn đoán: Máy bị treo có thể do những nguyên nhân sau:
+ Bạn vừa cài một phần mềm mới hoặc một thiết bị phần cứng mới.
+ Bạn đã cài East Asian Language vào hệ thống, đồng thời đã lựa chọn Input Method Editor (IME) là ngôn ngữ mặc định của mình.

Giải pháp: Bạn hãy làm theo những hướng dẫn dưới đây để khắc phục:
+ Thử gỡ bỏ những phần mềm mới vừa cài đặt vào máy hoặc thay thế chúng bằng những phiên bản khác nhằm kiểm tra tính tương thích của chúng đối với hệ thống của bạn.
+ Lên Website chính thức của nhà sản xuất thiết bị phần cứng của bạn để tải về phiên bản mới nhất driver điều khiển chúng.
+ Lên Website của Microsoft tại địa chỉ www.microsoft.com để lấy về phiên bản Service Pack mới nhất.
+ Hoặc tải về riêng bản sửa lỗi cho Windows Xp là “Restarting Windows XP” theo cách sau:
- Vào trang http://v5.windowsupdate.microsoft.com/
- Hãy kích Personalize Windows Update phía dưới mục Other Options.
- Sau đó, bạn hãy đánh dấu chọn Display the link to the Windows Update Catalog under See Also
- Kích Save Settings.
- Dưới mục See Also, kích Windows Update Catalog
- Kích Find updates for Microsoft Windows Operating Systems
- Trong danh sách Operating system, kích Windows XP RTM, sau đó lựa chọn ngôn ngữ của bạn rồi nhấn Search
- Kích Recommended Updates
- Tại danh sách Recommended Updates, bạn hãy chọn Restarting Windows XP update và kích Add.
- Kích Go to download basket, tại mục Type or browse to the download location of your choice, rồi gõ địa chỉ của Folder nơi bạn muốn lưu bản update này hoặc kích vào nút Browse để chỉ tới thư mục đó.
- Kích Download Now
- Và cuối cùng, kích Accept.

2. Windows Media Player 10 không thể xem DVD

Tình trạng: ổ đĩa DVD và các thiết bị phần cứng khác đều không có dấu hiệu hư hỏng nhưng Windows Media Player 10 (WMP) vẫn không thể xem DVD được.

Chẩn đoán: Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho Windows Media Player không thể xem DVD được, trước hết bạn hãy thử gỡ bỏ WMP 10 và trong quá trình cài đặt lại bạn hãy lựa chọn toàn bộ thành phần của chương trình xem có khắc phục được không. Nếu vẫn không khắc phục được bạn phải bật tính năng DMA (Direct Memory Access) lên. DMA giúp bạn truyền tải dữ liệu từ bộ nhớ hệ thống tới các thiết bị phần cứng mà không cần qua CPU, một số phần mềm yêu cầu bạn phải bật tính năng này lên.

Giải pháp: Bạn hãy làm theo những hướng dẫn dưới đây để khắc phục:
+ Kích Start/Settings/Control Panel và sau đó kích chọn System. Trong hộp thoại System Properties, bạn hãy nhấp chọn thẻ Hardware và kích vào thẻ Device Manager.
+ Kích đúp chuột trái vào IDE ATA/ATAPI controllers.
+ Nháy chuột phải vào Primary IDE Channel, rồi chọn Properties. Tại đây bạn chọn thẻ Advanced Settings, trong Transfer Mode, bạn hãy kích DMA if available.
+ Phía dưới Device 1, trong Transfer Mode, bạn lại kích tiếp vào ô DMA if available.
+ Kích OK.
Tiếp theo bạn lặp lại các bước trên từ bước thứ 2 đến bước thứ 5 và chỉ thay đổi Primary IDE Channel bằng Secondary IDE Channel trong bước thứ 3 rồi làm tiếp. Tuy nhiên, xin bạn lưu ý là thẻ Advanced Settings không phải máy nào cũng có đâu nhé! Vì vậy, bạn nên chuyển tới cách làm tiếp theo như sau:
Một nguyên nhân nữa trong trường hợp này có thể do Card màn hình của bạn không hỗ trợ xem phim với độ phân giải hiện tại, bạn hãy thiết lập lại như sau:
+ Kích Start/Settings/Control Panel, sau đó kích chọn Display.
+ Hộp thoại Display Properties sẽ hiện ra, bạn chọn thẻ Settings.
+ Trong mục Color quality, kích Medium (16 bit).
+ Trong ô Screen resolution, bạn hãy di chuyển thanh trượt về phía bên trái để giảm bớt độ phân giải.
+ Kích Advanced.
+ Tại thẻ Monitor, phía dưới ô Monitor Settings bạn hãy chọn tần số Refresh Rate xuống thấp hơn.
Sau đó ấn OK để khẳng định lại thiết lập mới của bạn. Và nếu không chắc rằng bạn đang có trong tay phiên bản mới nhất của Driver cho Card màn hình, bạn hãy vào Website của nhà sản xuất để tải về phiên bản mới hơn. Hi vọng nó sẽ giúp ích được cho bạn!

3. Bạn không thể đọc tập tin trên đĩa CD/DVD sau khi bạn thay thế ổ đĩa CD-R/CD-RW cũ của mình bằng một ổ CD/DVD mới

Tình trạng: Trong một số trường hợp, sau khi bạn thay thế ổ đĩa CD-R hoặc CD-RW của mình bằng một ổ đĩa CD/DVD thì ổ đĩa đó không thể nào truy xuất được dữ liệu trên đĩa CD/DVD sử dụng trong ổ đĩa thay thế đó.

Chẩn đoán: Tình trạng này xảy ra do máy tính của bạn đã không kịp thời cập nhật thông tin về ổ đĩa mới khi kí tự được gán cho ổ đĩa cũ (ổ G:\ chẳng hạn) cũng đồng thời được gán cho ổ đĩa vừa được thay thế này. Vì thế, thông tin trong Registry về ổ đĩa cũ vẫn tồn tại và khiến cho Windows cố nhận ổ đĩa mới này là ổ có khả năng sao chép.

Giải pháp: Bạn hãy làm theo những hướng dẫn dưới đây để khắc phục:
+ Kích Start, và sau đó kích chọn Control Panel.
+ Tại đây, bạn hãy kích đúp vào mục System (Cách khác: Kích chuột phải vào biểu tượng My Computer trên Desktop rồi chọn Properties).
+ Ngay lập tức, hộp thoại System Properties xuất hiện. Bạn hãy chọn thẻ Hardware rồi chọn Device Manager.
+ Trong cây thư mục phía bên trái, bạn hãy chọn mục DVD/CD-ROM.
+ Tiếp đến, hãy kích chuột phải vào tên ổ đĩa của bạn rồi chọn Uninstall.
+ Sau khi kết thúc quá trình gỡ bỏ driver cũ, bạn hãy vào menu Action rồi chọn Scan for hardware changes.
+ Hệ thống sẽ tự động cập nhật thông tin về ổ đĩa mới cho bạn. Nếu không thành công, bạn hãy lên Website chính thức của nhà sản xuất ổ đĩa đó để tải về driver mới cho mình.
Như các bạn thấy đó, việc khắc phục một số lỗi thông thường thực ra không hề quá phức tạp phải không nào? Cái chính là bạn hãy bình tĩnh để chẩn đoán “bệnh” cho chiếc máy tính của mình, hoặc hãy sử dụng các chương trình sao lưu dữ liệu như Norton Ghost trước khi bắt tay vào cài đặt hay xóa bỏ một chương trình nào mà bạn cảm thấy không “an tâm” nhé!

Chuẩn đoán và khắc phục hiện tượng máy bị Restart liên tục

Máy tính của bạn bị tình trạng tự động khởi động lại sau một vài phút sử dụng? Trường hợp này có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân, bạn cần phải thử nghiệm trên phần mềm lẫn phần cứng để có thể tìm ra nguyên nhân và khắc phục:

1. Ổ cứng bị lỗi vật lý (bad).

Khi bị lỗi này, có thể chương trình bạn đang chạy một số tập tin nằm trong vùng bị lỗi thì máy sẽ khởi động lại. Ngoài ra, Card màn hình, RAM gắn lỏng lẻo cũng có thể gây ra tình trạng tương tự, tuy nhiên thường thì chúng sẽ xuất hiện màn hình “xanh” báo lỗi.

* Cách giải quyết: Vào Windows Explorer, chọn ổ đĩa cài đặt hệ thống, thường là ổ C, phải chuột, chọn Properties, chọn thẻ Tools, sau đó click vào Check Now ở phần Error-checking để kiểm tra lỗi đĩa. Có thể sử dụng các phần mềm cao cấp từ các hãng thứ 3 để việc kiểm tra và xử lý được chuyên nghiệp hơn như RepairDisk Manager của Raxco.

Bạn cần sao lưu lại dữ liệu trong trường hợp này, vì đó cũng là tín hiệu của ổ cứng sắp đến giới hạn “tuổi thọ”.

2. Nhiệt độ trong thùng máy quá nóng

- Có thể do quạt của CPU đã hỏng bạn cần kiểm tra lại, vì đây là nguyên nhân rất nguy hiểm có thể gây hư hỏng hệ thống phần cứng.
- Gắn thêm các quạt trong case hoặc bộ làm mát bằng nước.
- Để máy ở chỗ thoáng mát sẽ làm tăng tuổi thọ các thiết bị trong hệ thống.
- Dùng các chương trình kiểm tra nhiệt độ trong thùng máy.

3. Nguồn điện không ổn định

Có nhiều cách thức để kiểm tra dòng điện mà bộ nguồn cung cấp cho máy tính của bạn. Bộ nguồn tốt phải cung cấp được dòng điện "sạch" cho các linh kiện. Có nhiều người cho rằng các đường điện càng cao sẽ càng tốt nhưng thực tế điều này không đúng. Vấn đề ổn định dòng điện phải được đặt lên hàng đầu.Để theo dõi đường điện của bộ nguồn mới mua, bạn có thể sử dụng một số phần mềm chuyên dụng như Speedfan với chức năng lập biểu đồ theo thời gian.

Tất nhiên, giá trị cụ thể của các dòng điện do chương trình đưa ra chỉ mang tính tham khảo. Để có con số chính xác, bạn nên sử dụng các thiết bị đo chuyên dụng.

4. Virus

Đây là trường hợp khả thi nhất. Khá nhiều loại virus làm cho hệ thống tự động restart lại liên tục. Bạn cần có 1 chương trình antivirus luôn được thực thi ở chế độ thời gian thực (real-time), cập nhật virus database mới nhất từ hãng sản xuất. Sau đó ngắt mạng (LAN, Internet) và tiến hành quét lại toàn bộ hệ thống (Full scan). Có thể sử dụng các trình antivirus như: Bitdefender Pro 10 Plus, AVG Antivirus, NOD32 Antivirus, Kaspersky Antivirus. ( nhắc nhở riêng: thằng bkav cũng là một trong số nguyên nhân làm máy thường khởi động lại, nếu máy nào bị tình trạng này mà đang ài nó, tốt nhất gở bỏ nó ra, vào thư mục cài đaặt xóa noó luôn)!

Trường hợp xấu nhất có thể phải cài đặt lại toàn bộ hệ thống nhưng đừng bung tập tin sao lưu Ghost để khôi phục lại hệ thống vì rất có thể trong tập tin Ghost đã bị nhiễm virus sẵn.

Socket CPU và các lỗi thường gặp


Socket CPU
Là đế dùng để gắng CPU vào mainboard. Là thành phần dễ nhận biết nhất trên mainboard. Hiện có 2 dạng thông dụng đối với CPU INTEL là socket 478 (đã ngưng sản xuất) và socket 775. Đối với CPU AMD thì socket AMD2. Dĩ nhiên là còn rất nhiều lọai socket khác nhau nữa nhưng tôi chi nêu 3 cái đặc trưng thôi.

Các lỗi thường gặp:
1. Chủ yếu do tiếp xúc không tốt: 
- Đối với socket 478 và AMD2 phải cẩn thận tháo miếng gặt chân màu sáng (chiếm 1/2 bên trên bề mặt socket) ra vệ sinh = RP7 và quan sát kỹ coi có bị ten, rỉ hay không. Nếu có thì vệ sinh và cạo thật sạch để CPU và socket tiếp xúc trở lại.
- Đối với socket 775 thì quan sát kỹ xem có bị cong các chân tiếp xúc. Vệ sinh thật nhẹ để tránh cong các chân tiếp xúc.
2. Lỗi hở chân socket: 
- Đối với lọai socket dùng chân gầm (không xuyên qua mainboard) như kiểu chipset. Trường hợp này rất khó chuẩn đoán.
- Có thể dùng thiết bị “test socket” (xem hình) để kiểm tra tình trạng tiếp xúc của Socket CPU.
- Nếu có kinh nghiệm, thường dùng tay đè mạnh lên lưng CPU nếu thấy card test mainboard nhảy sang số khác hơn so với lúc chưa đè tay thì 99,99% hở socket.
- Lỗi này chủ yếu do chì bi dưới bụng socket lâu ngày bị “nhót” lại dẫn đến hụt chì gây tiếp xúc không tốt giữa socket và mainboard.
- Cách xử lý tốt nhất là hấp “khô” lại socket (không dùng mỡ hay nhựa thông). Cần phải có máy hàn chip chuyên dùng mới làm được. Tối thiểu cũng phải dùng “bếp hấp” chuyên dùng. Nên nhớ không cho mỡ hay nhựa thông vào socket sẽ làm “chết” socket vì mỡ hay nhựa thông sẽ thấm vào các chân và không còn tiếp xúc tốt nữa.
- Nếu hấp vẫn không giải quyết thì chỉ còn cách thay socket mà thôi. Dĩ nhiên phải có socket mới và máy hàn chip mới làm được.

Sửa Chân CPU

Các CPU dùng chân kiểu cổ điển vẫn còn được sử dụng dù chúng dễ bị hư hỏng. Cách sửa tình trạng bị cong, méo của loại chân CPU kiểu này.
Các dụng cụ cần thiết:
- Một tấm bìa cứng nhưng mỏng (dùng sim điện thoại hay tấm nhựa cứng chứa sim là hợp lý nhất)
- Có thể thay thế bằng một chiếc dao nhỏ và mỏng (trong thực tế, các kỹ thuật viên thường dùng dao lam bởi độ bén ngọt nhưng mỏng và dễ thao tác)


 
Trong hướng dẫn này, người viết dùng một PCB (bo mạch) đặc biệt, chuyên dùng để kiểm tra tình trạng của CPU. Nhưng trong điều kiện thực tế, người dùng có thể sử dụng trực tiếp các đế cắm trên bo mạch chủ (mainboard) 

Đưa CPU lên ngang tầm mắt để xác định chính xác các chân bị cong 

Dùng tấm nhựa cứng nắn từng hàng chân một, nhẹ nhàng và làm lần lượt các chiều sao cho các chân CPU trở lại như cũ hoặc ít nhất cũng có khoảng cách đều so với nhau 

Gắn CPU vào đế cắm lại, điều này rất cần thiết vì dù nắn tốt thế nào đi chăng nữa cũng không thể trả lại trạng thái như cũ được. Quá trình gắn lại vào đế cắm cần thao tác nhẹ nhàng và chính xác, tuyệt đối không được dùng nhiều lực để ấn CPU xuống. 

Nếu thành công, mọi việc sẽ trở lại như cũ. CPU sẽ hoạt động tiếp tục (CPU ít khi chết, khó bị gãy hoàn toàn chân cắm nếu không bị lực tác động quá lớn hoặc sai cách)

Nguyên nhân máy tính bị chậm

Dưới Đây Là Một Số Nguyên Nhân Chính Làm Máy Tính Của Bạn Bị Chậm


-Máy tính cài chương trình diệt virus quá “nặng” 

Nếu chương trình diệt virus càng hiệu quả thì lại càng can thiệp sâu vào hệ thống máy tính. Điều đó dẫn đến việc tốc độ xử lý của máy bị giảm đi đáng kể sau khi được bảo vệ bởi những chương trình như Norton Anti Virus hay Mcafee… Biện pháp xử lý lúc này tất nhiên không phải là gỡ bỏ chúng vì như vậy chẳng khác nào mở cửa cho các loại sâu hay virus thâm nhập vào máy tính. Hướng giải quyết đơn giản là nếu như cấu hình của máy tính bạn không thuộc vào dạng hàng “khủng” như Pentium IV hay Duo Core … thì nên chuyển sang chương trình bảo vệ nhẹ hơn, phù hợp với cấu hình máy tính cá nhân. Bit Defender hay KasperSky là lời khuyên đưa ra ở đây. 


-Quá nhiều chương trình được kích hoạt khi khởi động máy

Nhà sản xuất phần mềm nào cũng đều muốn chương trình mình được sử dụng nhiều nhất. Điều đó dẫn đến việc hầu hết các chương trình sau khi được cài đặt đều tự cho mình quyền được xuất hiện ngay sau khi Windows khởi động. Chính việc đó làm cho tài nguyên máy bị chiếm dụng vô cùng lãng phí, trong khi chủ nhân của máy chưa chắc đã có nhu cầu dùng đến những chương trình này. Vì thế, khi install một software, bạn nên để ý đến những câu hỏi như: “Bạn có muốn chương trình này được chạy khi Windows khởi động không?”. Càng ít chương trình được chạy khi khởi động, máy tính của bạn sẽ càng chạy nhanh. Nếu phần mềm đã cài không cho phép chỉnh sửa việc này, chạy Run, gõ msconfig, chọn Start up và tích bỏ chương trình không cần xuất hiện khi khởi động máy. 
-Gỡ bỏ các phần mềm không theo đúng quy trình

Nếu bạn cài đặt một chương trình bằng việc Install, tất nhiên khi không còn cần dùng đến phần mềm đó, bạn phải sử dụng chức năng Uninstall để gỡ bỏ. Thế nhưng rất nhiều nhà sản xuất lại chỉ để ý đến việc làm sao cho chương trình của mình chạy được trên máy tính, mà “quên mất” chức năng ngược lại khiến nhiều người lúng túng khi muốn xóa. Ngay cả khi bạn xóa hết toàn bộ các file chương trình đó trong Program Files, vẫn còn rất nhiều thông số hệ thống “mắc” lại trong registry của máy, làm cho máy tính chạy chậm đi. Hướng giải quyết ở đây là: vào Control Panel/Add or Remove Program để gỡ bỏ chương trình cần uninstall. 

-Máy sinh ra quá nhiều “rác” cùng quá trình sử dụng

Cùng với thời gian, máy tính của bạn sẽ trở nên ì ạch do phải chứa khá nhiều những file như temporary files, cookies hay saved passwords…Tất nhiên những file này đều được Microsoft tính đến là có tác dụng, tuy nhiên khi mà dung lượng của chúng trở nên quá lớn thì cũng nên dọn dẹp một chút. Bạn vào Tools trong Internet Explorer, chọn Internet Options/Browsing history, ấn Delete. 

-Ổ cứng bị phân mảnh

Khi liên tục copy, xóa các file trên ổ cứng, ổ cứng sẽ có hiện tượng bị phân mảnh, làm giảm tốc độ đọc các chương trình của máy tính. Thông thường sau khoảng vài tháng đưa vào sử dụng, bạn nên sử dụng chức năng chống phân mảnh mà Microsoft cung cấp để tăng tốc độ đọc ổ. Click chuột phải vào ổ cần thao tác, chọn Properties/Tools/Defragmentation. Mặc dù việc xử lý này sẽ tương đối mất thời gian tùy thuộc vào dung lượng ổ cứng và số các chương trình trên ổ. Sau khi quá trình Defragmentation được hoàn tất, bạn sẽ cảm nhận rõ sự thay đổi về tốc độ CPU. 

-Bộ nhớ đệm không hợp lý

Khi RAM máy tính bị tận dụng hết công suất, máy tính sẽ viện đến một công cụ hỗ trợ rất đắc lực là bộ nhớ ảo (Virtual Memory). Tuy nhiên nếu cài đặt không hợp lý, bạn sẽ thường xuyên gặp phải thông báo: “Virtual Memory Too Low”. Sửa bộ nhớ ảo bằng cách click chuột phải vào My Computer/Properties chọn Advanced > Performance > Settings, chọn tiếp Advanced/Virtual Memory/Change. Tại đây bạn chọn Initial Size và Maximum size cho hợp lý với lượng RAM máy tính và dung lượng ổ cứng. Thông thường nếu RAM là 512 MB và dung lượng ổ cứng còn trống là khoảng vài GB thì nên để Initial Size = Maximum size = 1000. 



Cũng Còn Rất Nhiều Nguên nhân Nữa Dẫn Đến Máy Của Bạn Bị Chậm.
 
Copyright © 2014 Sửa Chữa Máy Tính Tại Thái Bình. OddThemes